100 cái tên con trai con gái họ Phạm đẹp và hợp phong thuỷ nhất 2019

0
206

100 cái tên con trai con gái họ Phạm đẹp và hợp phong thuỷ nhất 2019

SttTênÝ nghĩa
1Phạm Minh AnhChữ Anh vốn dĩ là sự tài giỏi, thông minh, sẽ càng sáng sủa hơn khi đi cùng với chữ Minh
2Phạm Minh ĐứcChữ Đức không chỉ là đạo đức mà còn chứa chữ Tâm, tâm đức sáng sẽ giúp bé luôn là con người tốt đẹp, giỏi giang, được yêu mến
3Phạm Minh KhangMột cái tên với ý nghĩa mạnh khỏe, sáng sủa, may mắn dành cho bé
4Phạm Gia KhánhBé luôn là niềm vui, niềm tự hào của gia đình
5Phạm Ðức TàiVừa có đức, vừa có tài là điều mà cha mẹ nào cũng mong muốn ở bé
6Phạm Quang VinhThành đạt, rạng danh cho gia đình và dòng tộc
7Phạm Thanh TùngCó sự vững vàng, công chính, ngay thẳng
8Phạm Uy VũCon có sức mạnh và uy tín
9Phạm Phúc LâmBé là phúc lớn trong dòng họ, gia tộc
10Phạm Ðức BìnhBé sẽ có sự đức độ để bình yên thiên hạ
11Phạm Phúc ThịnhPhúc đức của dòng họ, gia tộc ngày càng tốt đẹp
12Phạm Minh QuânBé sẽ là nhà lãnh đạo sáng suốt trong tương lai
13Phạm Mạnh HùngMạnh mẽ, và quyết liệt đây là những điều bố mẹ mong muốn ở bé
14Phạm Thiện NhânỞ đây thể hiện một tấm lòng bao la, bác ái, thương người
15Phạm Ngọc MinhBé là viên ngọc sáng của cha mẹ và gia đình
16Phạm Đức DuyTâm Đức sẽ luôn sáng mãi trong suốt cuộc đời con
17Phạm Minh QuangSáng sủa, thông minh, rực rỡ như tiền đồ của bé
18Phạm Tuấn KiệtBé vừa đẹp đẽ, vừa tài giỏi
19Phạm Quang KhảiThông minh, sáng suốt và luôn đạt mọi thành công trong cuộc sống
20Phạm Hữu TâmTâm là trái tim, cũng là tấm lòng
21Phạm Hữu NghĩaBé luôn là người cư xử hào hiệp, thuận theo lẽ phải
22Phạm Xuân TrườngMùa xuân với sức sống mới sẽ trường tồn
23Phạm Tấn PhátBé sẽ đạt được những thành công, tiền tài, danh vọng
24Phạm Hữu ĐạtBé sẽ đạt được mọi mong muốn trong cuộc sống
25Phạm Anh MinhThông minh, và lỗi lạc, lại vô cùng tài năng xuất chúng
26Phạm Bảo LongBé như một con rồng quý của cha mẹ, và đó là niềm tự hào trong tương lai với thành công vang dội
27Phạm Trường AnĐó là sự mong muốn của bố mẹ để con bạn luôn có một cuộc sống an lành, và may mắn đức độ và hạnh phúc
28Phạm Kiến VănBé là người có kiến thức, ý chí và sáng suốt
29Phạm Trung KiênBé sẽ luôn vững vàng, có quyết tâm và có chính kiến
30Phạm Minh TriếtCó trí tuệ xuất sắc, sáng suốt
31Phạm Ðăng KhoaCái tên sẽ đi cùng với niềm tin về tài năng, học vấn và khoa bảng của con trong tương lai
32Phạm Gia HưngBé sẽ là người làm hưng thịnh gia đình, dòng tộc
33Phạm Ðức ThắngCái Đức sẽ giúp con bạn vượt qua tất cả để đạt được thành công
34Phạm Gia HuyBé sẽ là người làm rạng danh gia đình, dòng tộc
35Phạm Anh DũngBé sẽ luôn là người mạnh mẽ, có chí khí để đi tới thành công
36Phạm Phúc HưngPhúc đức của gia đình và dòng họ sẽ luôn được con gìn giữ, phát triển hưng thịnh
37Phạm Quốc BảoĐối với bố mẹ, bé không chỉ là báu vật mà còn hi vọng rằng bé sẽ thành đạt, vang danh khắp chốn
38Phạm Hùng CườngBé luôn có sự mạnh mẽ và vững vàng trong cuộc sống không sơ những khó khăn mà bé có thể vượt qua tất cả
39Phạm Minh KhôiSảng sủa, khôi ngô, đẹp đẽ
40Phạm Huy HoàngSáng suốt, thông minh và luôn tạo ảnh hưởng được tới người khác
41Phạm Trường PhúcPhúc đức của dòng họ sẽ trường tồn
42Phạm Thiên ÂnNói cách khách sự ra đời của bé là ân đức của trời dành cho gia đình
43Phạm Hữu ThiệnCái tên đem lại sự tốt đẹp, điềm lành đến cho bé cũng như mọi người xung quanh
44Phạm Anh TuấnĐẹp đẽ, thông minh, lịch lãm là những điều bạn đang mong ước ở bé đó
45Phạm Ðức ToànChữ Đức vẹn toàn, nói lên một con người có đạo đức, giúp người giúp đời
46Phạm Khôi NguyênĐẹp đẽ, sáng sủa, vững vàng, điềm đạm
47Phạm Quốc TrungCó lòng yêu nước, thương dân, quảng đại bao la
48Phạm Thái SơnVững vàng, chắc chắn cả về công danh lẫn tài lộc
49Phạm Chí ThanhCái tên vừa có ý chí, có sự bền bỉ và sáng lạn
50Phạm Chấn PhongChấn là sấm sét, Phong là gió, Chấn Phong là một hình tượng biểu trưng cho sự mạnh mẽ, quyết liệt cần ở một vị tướng, vị lãnh đạo

Tên con gái họ Phạm 2019 đẹp cùng ý nghĩa của từng tên

SttTênÝ nghĩa
1Phạm HẠNH SANTiết hạnh của con thắm đỏ như son
2Phạm THU NGUYỆTTỏa sáng như vầng trăng mùa thu
3Phạm KIM KHÁNHCon như tặng phẩm quý giá do vua ban
4Phạm THIÊN DICánh chim trời đến từ phương Bắc
5Phạm NGUYỆT CÁTHạnh phúc cuộc đời con sẽ tròn đầy
6Phạm PHƯỢNG VŨĐiệu múa của chim phượng hoàng
7Phạm QUỲNH HƯƠNGCon là nàng tiên nhỏ dịu dàng, e ấp
8Phạm THIÊN HÀCon là cả vũ trụ đối với bố mẹ
9Phạm NGỌC DIỆPChiếc lá ngọc ngà và kiêu sa
10Phạm ÁI KHANHNgười con gái được yêu thương
11Phạm NGỌC LIÊNĐoá sen bằng ngọc kiêu sang
12Phạm QUẾ CHICành cây quế thơm và quý
13Phạm HÀ MICon có hàng lông mày đẹp như dòng sông uốn lượn
14Phạm THANH TÂMMong trái tim con luôn trong sáng
15Phạm DIỄM KIỀUCon đẹp lộng lẫy như một cô công chúa
16Phạm THỤC QUYÊNCon là cô gái đẹp, hiền lành và đáng yêu
17Phạm CHI LANHãy quý trọng tình bạn, nhé con
18Phạm DIỆU ANHCon gái khôn khéo của mẹ ơi, mọi người sẽ yêu mến con
19Phạm XUYẾN CHIHoa xuyến chi thanh mảnh, như cây trâm cài mái tóc xanh
20Phạm YẾN OANHHãy hồn nhiên như con chim nhỏ, líu lo hót suốt ngày
21Phạm THỤC ĐOANHãy là cô gái hiền hòa đoan trang
22Phạm THƯƠNG NGANgười con gái như loài chim quý dịu dàng, nhân từ
23Phạm TRÚC CHICành trúc mảnh mai, duyên dáng
24Phạm DẠ THIVần thơ đêm
25Phạm DẠ HƯƠNGLoài hoa dịu dàng, khiêm tốn nở trong đêm
26Phạm MỘC MIÊNLoài hoa quý, thanh cao, như danh tiết của người con gái
27Phạm LÂM TUYỀNCuốc đời con thanh tao, tĩnh mịch như rừng cây, suối nước
28Phạm BẠCH LIÊNHãy là búp sen trắng toả hương thơm ngát
29Phạm ĐẠI NGỌCViên ngọc lớn quý giá
30Phạm QUỲNH ANHNgười con gái thông minh, duyên dáng như đóa quỳnh
31Phạm HƯƠNG THẢOMột loại cỏ thơm dịu dàng, mềm mại
32Phạm VÂN KHÁNHTiếng chuông mây ngân nga, thánh thót
33Phạm HẢI YẾNCon chim biển dũng cảm vượt qua phong ba, bão táp
34Phạm SONG THƯHãy là tiểu thư tài sắc vẹn toàn của cha mẹ
35Phạm ĐOAN TRANGCon hãy là một cô gái nết na, thùy mị
36Phạm CÁT TƯỜNGCon là niềm vui, là điềm lành cho bố mẹ
37Phạm TỊNH YÊNCuộc đời con luôn bình yên thanh thản
38Phạm TRÂM ANHCon thuộc dòng dõi quyền quý, cao sang trong xã hội
39Phạm MINH KHUÊHãy là vì sao luôn tỏa sáng, con nhé
40Phạm HỒNG KHUÊCánh cửa chốn khuê các của người con gái
41Phạm TRÂN CHÂUCon là chuỗi ngọc trai quý của bố mẹ
42Phạm LINH ĐANCon nai con nhỏ xinh của mẹ ơi
43Phạm NGHI DUNGDung nhan trang nhã và phúc hậu
44Phạm THIÊN HƯƠNGCon gái xinh đẹp, quyến rũ như làn hương trời
45Phạm THÁI HÒANiềm ao ước đem lại thái bình cho muôn người
46Phạm HIẾU HẠNHHãy hiếu thảo đối với ông bà, cha mẹ, đức hạnh vẹn toàn
47Phạm ANH THƯMong lớn lên, con sẽ là một nữ anh hùng
48Phạm THU GIANGDòng sông mùa thu hiền hòa và dịu dàng
49Phạm UYỂN NHÃVẻ đẹp của con thanh tao, phong nhã
50Phạm TÚ TÂMBa mẹ mong con trở thành người có tấm lòng nhân hậu

 

+ Nguồn gốc họ Phạm tại Việt nam

Nguồn gốc họ Phạm tại Việt nam

Việt Nam có 6 dân tộc có người mang Họ Phạm:

– 1 / 165 họ của người Kinh,

– 1 / 11 họ của người Mường,

– 1 / 11 họ của người Tày,

– 1 / 172 họ của người Việt gốc Hoa,

– 1 / 49 họ của người Việt gốc Khmer.

* Dân tộc Thái có người họ Phạm vốn là họ Khằm/Cầm chuyển sang

Họ Phạm là dòng họ phổ biến thứ 4 ở Việt Nam với 7% dân số với khoảng 6,7 triệu người chỉ đứng sau họ Nguyễn, Trần, Lê. Tuy có rất nhiều nhân tài trí sĩ nhưng chưa một lần có người làm Vua; nhiều người họ Phạm là “Lương đống của xã tắc”.

Nhân vật lịch sử họ Phạm đầu tiên trong chính sử là Danh tướng Phạm Tu – khai quốc công thần triều Tiền Lý, đã có công: đánh đuổi quân Lương (542), đánh tan quân xâm lấn Lâm Ấp (543), dựng Nhà nước Vạn Xuân (544)

Theo các bản Thần phả, Thần tích sự xuất hiện các vị họ Phạm sớm hơn, như:

– Phạm Quốc Lang quốc lang đại Vương, tướng thời Hùng Vương thứ 6 chống giặc Ân .Thờ ở đền Hạ, Đông Ngàn Đông Hội Đông Anh Hà Nội

– Nam Hải Đại Vương Phạm Hải, và ba anh em Phạm Vĩnh (Trấn Tây An Tam Kỳ Linh ứng Thái Thượng đẳng Thần) thế kỷ III trước CN, giúp Vua Hùng thứ 18 đánh Thục

– Tướng quân Phạm Gia – tướng của An Dương Vương, 208 trước CN lui quân về vùng Hoài Đức

– Phạm Danh Hương chồng của Bát Nạn nữ tướng quân (thời Hai Bà Trưng)

Họ Phạm ở Việt Nam có thể có hai nguồn gốc chính: từ cộng đồng tộc Việt trong Bách Việt của nước Văn Lang, Âu Lạc xưa, từ nguồn gốc ở các tỉnh miền Nam Trung quốc di cư sang và được Việt hoá. Ngoài ra còn có họ Phạm từ các dòng họ khác đổi sang như họ Mạc,…

Các dòng họ Phạm – Việt Nam không có một ông tổ duy nhất. Do vậy, BLL họ Phạm Việt Nam đề nghị suy tôn Đô Hồ Đại vương Phạm Tu là một Thượng Thuỷ tổ họ Phạm Việt Nam. Ông là nhân vật lịch sử đầu tiên của dòng họ Phạm có công lao đối đất nước đã được ghi vào sử sách. Chúng ta cũng không quên công lao các vị đã sinh thành dưỡng dục Thượng thủy tổ. Tại miếu Vực có thờ hai vị thân sinh và Đô Hồ Đại vương.

Họ Phạm Việt Nam có sự chuyển cư rất mạnh lan tỏa trong vùng châu thổ sông Hồng, rồi vào Ái Châu (Thanh Hóa). Từ Thanh Hóa lại có sự chuyển cư trở lại vùng Sơn Nam Hạ (ngày nay là các tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình…) và vào miền Nam Trung bộ (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định,… mạnh nhất là vào thời nhà Lê (thế kỷ thứ XV). Trong thời kỳ hiện đại, người họ Phạm Việt Nam định cư ở nhiều nước trên thế giới.[cần dẫn nguồn]

Các nhánh lớn

Họ Phạm Tuấn Kiệt (Hùng Thắng, Bình Giang, Hải Dương)

Có từ đường thờ phụng thuỷ tổ dòng họ Phạm tại đây. Đến nay đã có 18 đời con cháu sinh sôi và phát triển ở đây. Phạm tộc được chia thành 4 chi (Phạm Đỉnh, Phạm Khả, Phạm Đình và Phạm Kim) Trong đó chi Phạm Đình có con cháu rất đông đảo.

Nổi bật có cụ tổ đời thứ 5 Phạm Đỉnh Chung 范鼎鍾 đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, năm Bảo Thái thứ 5 (1724). Làm quan dưới thời Hậu Lê (Vua Lê Dụ Tông) chức Hàn lâm học sĩ cai quản sổ sách trong triều.

Họ Phạm Thổ Hào (Thanh Chương, Nghệ An)

Phát tích từ xã Thổ Hào, nay là xã Thanh Giang, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Nơi đây thờ phụng Thủy tổ Phạm Kinh Vỹ, đỗ Giải nguyên kì thi Hương khoa Giáp Ngọ, năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1714), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn, năm Bảo Thái thứ 5 (1724).

Họ Phạm Ngọc Quế (Quỳnh Phụ, Thái Bình)

Phát tích từ làng Ngọc Quế (hữu ngạn sông Luộc), xã Quỳnh Hoa, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình (cả vùng Ngọc Quế có một họ Phạm duy nhất,nên gọi là họ Phạm Ngọc Quế). Theo truyền khẩu thì dòng họ này thuộc dòng dõi Phạm Lệnh Công (Phạm Chiêm), thuộc một trong các chi ngành Phạm Hạp (979)- (Phạm Hạp là ông tổ 8 đời của danh tướng Phạm Ngũ Lão một danh tướng thời Trần – căn cứ theo sách Kỷ Yếu Tân Biên của Phạm Côn Sơn. Như vậy, dòng họ Phạm Ngọc Quế là cùng chi ngành với danh tướng trên), làng Trà Hương, Khúc Giang, Nam Sách, Hải Hưng. Thủy tổ ngành tại Ngọc Quế là Phạm Đình Xoắn giỗ ngày 20 tháng Giêng âm lịch (sinh được 4 chi). Họ này hiện tại còn lại 3 chi, chi trưởng tại Vĩnh Bảo, Hải Phòng (chi cụ Phạm Văn Lĩnh), chi hai tại Ngọc Quế, Quỳnh Hoa, Quỳnh Phụ, Thái Bình (chi cụ Phạm văn Biên), chi ba tại nơi phát tích là Nam Sách, Hải Hưng (chi cụ Phạm Văn Lẫm. Con cháu chi ngành này hiện cư trú tại Lục Ngạn,Hà Bắc..)….

Theo thần tích miếu Hoàng Bà (Bái Trang, Quỳnh Hoa, Quỳnh Phụ, Thái Bình) do quan Giám Bách thần Nguyễn Hiền (1753) chép lại theo bản chính của quan Hàn Lâm viện Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính, thì vào thời vua Lý Anh Tông có bà Phạm Thị Huệ (người họ Phạm Ngọc Quế) lấy ông Nguyễn Khuê người làng Bái Trang sinh ra được ba người con gái là Nguyễn Thị Kim (Kim nương), Nguyễn Thị Lan (Lan nương) và Nguyễn Thị Thanh (Thanh nương). Bà Kim nương Nguyễn Thị Kim là một trong các hoàng phi của vua Lý Cao Tông. Ba bà có nhiều công lao giúp vua dẹp loạn giữ nước nên bà Lan nương được phong là “Lương Quốc Thiên Ninh Thái Trường Hoàng Ân công chúa” và bà Thanh Nương là “Thiên Cực Thái Trường Thiện Duyên công chúa”.Bà Kim Nương được phong là “Linh Thông Quốc Mẫu Hoàng Bà quý phi công chúa” Đền miếu các bà vẫn còn được thờ phụng đến ngày nay (nghè Vua Bà thôn Bái Trang, xã Quỳnh Hoa).Căn cứ theo thần tích trên thì Họ Phạm Ngọc Quế là một dòng họ rất lâu đời đã cư trú tại đây (Ngọc Quế,Quỳnh Hoa,Quỳnh Phụ,Thái Bình). Và cũng là một trong những ngành miêu duệ của một dòng họ Phạm anh hùng…

Họ Phạm Đông Ngạc (Từ Liêm, Hà Nội)

Họ Phạm làng Đông Ngạc (làng Vẽ cổ) (nay thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội), hình thành từ cuối thời nhà Trần (thế kỷ thứ 14). Thuỷ tổ là cụ Phạm Húng (khoảng năm 1345).Căn cứ vào những thư tịch Hán Nôm hiện còn lưu giữ được như: Phạm tộc phả ký, Phạm tộc gia phả, Đông Ngạc Phạm tộc gia tiên… thì tổ tiên họ Phạm gốc ở Ái Châu (Thanh Hóa ngày nay). Do những biến cố của lịch sử, có 3 anh em họ Phạm đầu tiên rời Ái Châu ra đinh sinh cơ lập nghiệp ở các nơi: một người về Đôn Thư (Thanh Oai – Hà Tây), một người về Bát Tràng (Gia Lâm – Hà Nội) và một người về Đông Ngạc (Từ Liêm – Hà Nội). Con cháu của họ di cư, lập nghiệp trên khắp toàn quốc, trong đó có một nhánh họ Phạm ở Hải Phòng. (Về chi họ Phạm ở Hải Phòng, vì chưa đủ tài liệu nên chưa thể hoàn thành, sẽ tiếp tục được nghiên cứu). Trải quan trên 600 năm, dòng họ Phạm làng Đông Ngạc đã phát triển tới 16 chi (Đại tôn), thuộc hai hàng Giáp, Ất và qua 22 thế hệ con cháu.

Tổ tiên họ Phạm rất nghèo nhưng hiếu học, trọng đạo nghĩa, đã mở đầu truyền thống học giỏi, đỗ cao và thanh liêm, có nhiều công lao đóng góp cho đất nước xóm làng. Dòng họ này thời phong kiến đã có 9 Tiến sĩ (trong đó có 1 Bảng nhãn, 1 Hoàng giáp) và 2 Sĩ vọng.

Phạm Thọ Lý (1610-1685) và Phạm Quang Dung (1675-1739) được thờ là Hậu thần tại bái đường đình làng Đông Ngạc vì đã có nhiều công lao với nước, với dân. Phạm Quang Dung đỗ Tiến sĩ năm Bính Tuất (1706). Ông đã từng làm Chánh sứ Trung Quốc năm Nhâm Tý (1732), làm quan tới chức Công bộ Thượng thư, Lệ quận công.

Phạm Quang Trạch, đỗ bảng nhãn khoa thi năm Quý Hợi (1683), đã từng giữ chức Lễ bộ hữu thị lang, tác giả cuốn Nam chưởng kỷ lục về mối bang giao giữa Đại Việt và Ai Lao.

Phạm Gia Chuyên (1791-1862), cháu 5 đời của Bảng nhãn Phạm Quang Trạch, cháu 4 đời của Tiến sĩ Phạm Nguyên Ninh, đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm 1832. Ông làm quan thời nhà Nguyễn, đã từng giữ các chức Tri phủ Kiến Xương (Thái Bình), Lễ bộ viên ngoại lang, Đốc học tỉnh Ninh Bình, Tự nghiệp Quốc tử giám. Ông tham gia soạn cuốn Quốc sử lược biên.

Trong thời hiện đại, nhiều người trong họ đã thành đạt, trong đó có Trung tướng GS-TS Phạm Gia Khánh (Giám đốc Học viện Quân y), GS-TS Phạm Gia Khải (Viện trưởng Viện Tim mạch), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng ngoại giao Việt Nam Phạm Gia Khiêm là một hậu duệ đời thứ 17 chi Ất.

Con cháu của dòng họ này đã lưu giữ được gần như là trọn vẹn các bản gia phả, tộc phả được bảo quản tại Viện Hán Nôm và trong các gia đình từ đời thứ nhất đến đời thứ 19.

Họ Phạm (Quảng Trạch, Quảng Bình)

Họ Phạm làng Cảnh Dương (nay xã Cảnh Dương, huyện Quảng Trạch, Quảng Bình, hình thành 1643. Thủy tổ Phạm Ông Chăm.

Phạm Chân sinh năm Giáp Tý (1804), năm Đinh Dậu (1837) đậu cử nhân, năm Mậu Tuất (1838) đậu Tiến sĩ. Phạm Chân được cử giữ chức Án Sát tỉnh Thanh Hóa, Án sát tỉnh Lạng Sơn, có công dẹp bọn giặc phỉ phương Bắc. Khi giặc Pháp đánh chiếm Nam Kỳ, Phạm Chân đã chiến đấu ngoan cường bảo vệ thành Biên Hòa – Gia Định. Khi thất thủ, không cam chịu rơi vào tay giặc, ông tuẫn tiết giữ tấm lòng trung, được triều đình nhà Nguyễn đưa vào thờ ở Trung Nghĩa đường.Con cháu của dòng họ này đã lưu giữ trọn vẹn bản gia phả bằng chữ Hán Nôm cổ và trong các gia đình từ đời thứ nhất đến đời thứ 14.

Họ Phạm Thanh Bình (Thanh Liêm, Hà Nam)

Cụ khởi tổ là Phạm Bá Thượng (đầu thế kỷ 18), có thể xuất thân từ các dòng họ Phạm miền biển (có thể là Thái Bình, Thanh Hóa) [chưa tìm được nguồn dẫn]. Khởi nghiệp tại thôn Lợ, xã Tốt Khê, tổng Hòa Ngãi (nay là thôn Lã, xã Thanh Bình, huyện Thanh Liêm, Tỉnh Hà nam). Họ có 5 chi lớn, đến nay đã có đời thứ 10. Con cháu các đời sinh sống tập trung tại xã Thanh Bình (chủ yếu tại thôn Lã và thôn Đạt Hưng), một nhánh định cư tại nước Úc.

Tóm lại:

Tin liên quan

    BÌNH LUẬN

    Please enter your comment!
    Please enter your name here