Thủ tục xuất khẩu nông sản đi Mỹ cần những gì? có những thay đổi gì trong năm 2019 – 2020?

0
29

+ Muốn thành lập Doanh nghiệp Xuất khẩu cần làm, Chuẩn bị những gì?

Muốn thành lập Doanh nghiệp Xuất khẩu cần làm, Chuẩn bị những gì?

Đối với người mới gia nhập vào lĩnh vực Xuất khẩu nông sản, Cần nằm lòng 4 điều kiện cần để Doanh nghiệp của bạn có thể hợp thức hoá xuất khẩu nông sản vào thị trường Mỹ nói riêng , Và Xuất khẩu nông sản việt đi các quốc gia khác nói chung.

  • Bước 1: Doanh nghiệp của bạn cần có sản phẩm, Bạn kinh doanh gì, sản phẩm của bạn mang lại lợi ích gì cho khách hàng?
  • – Bước 2: Bộ phận tìm kiếm khách hàng, Chào hàng, Mời dùng thử sản phẩm của công ty tới các khách hàng tiềm năng tại nước, quốc gia muốn thâm nhập, Việc này Doanh nghiệp bạn có thể tìm khách hàng thông qua Việc quảng cáo, hướng đối tượng vào đất nước cần xuất khẩu tới.
  • – Bước 3: Tìm đầu mối vận chuyển hàng uy tín, an toàn cho hàng hoá, sản phẩm của mình, Phải đảm bảo Việc gửi nhận hàng hoá sẽ nằm vào chi phí thấp nhất Vì Việc này sẽ giúp giá sản phẩm Doanh nghiệp bạn mang tính Cạnh tranh hơn cả.
  • – Bước 4: Tìm hiểu thủ tục thông quan, Các điều kiện để thông quan hàng hoá của bạn khi gửi đi số lượng nhiều, Nhất là mặt hàng nông sản, tại Hoa kỳ sẽ có các tiêu chuẩn tuỳ vào sản phẩm mà công ty bạn kinh doanh mà sẽ có các quy định cụ thể. Nếu bạn không rành, có thể sẽ phải thuê hẳn công ty Luật tư vấn giúp ở những thời gian đầu nhằm giảm chi phí thất thoát, mất mát hàng hoá nếu lỡ hàng bị trả lại.
  • – Bước 5: Kênh thanh toán tiện lợi cho cả đôi bên – chi phí thanh toán thấp nhất có thể.

+ Xuất khẩu vào Hoa Kỳ – Mỹ , Doanh Nghiệp Việt cần đáp ứng điều kiện gì?

 Xuất khẩu vào Hoa Kỳ - Mỹ , Doanh Nghiệp Việt cần đáp ứng điều kiện gì?

Việc xuất khẩu nông sản đi Mỹ năm nay 2019 – 2020 có rất nhiều thay đổi về yêu cầu nghiêm ngặt mà buộc các doanh nghiệp Việt làm về Xuất khẩu nông sản cần lưu tâm tới nếu không muốn hàng nông sản của mình bị trả lại. Ngoài các tiêu chuẩn chất lượng, an toàn với sức khoẻ trong quá trình xuất khẩu nông sản còn phải đảm bảo chất lượng trong quá trình vận chuyển hàng đi Mỹ – Hoa kỳ , tất cả các khâu từ sản xuất tới tay người tiêu dùng tại Mỹ đều được giám sát chặt trước khi được tiêu thụ trong thị trường Mỹ.

+ Đăng ký kèm xác nhận từ đại diện nhập khẩu phía Mỹ

Theo thống kê gần đây của FDA, Việt Nam có 1.485 cơ sở sản xuất được FDA cho phép kinh doanh hợp lệ nhưng con số này hiện chỉ còn 806. Có 679 cơ sở sản xuất bị hủy mã số kinh doanh do không tiến hành đăng ký lại hoặc không đúng thủ tục.

  • Chính phủ Mỹ đã đề ra những yêu cầu quản lý chất lượng hàng nông sản khắt khe hơn, trong đó quy định mặt hàng đó phải được Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Mỹ (FDA) cấp giấy chứng nhận chất lượng.
  • Theo luật hiện đại hóa an toàn vệ sinh thực phẩm Hoa Kỳ, cứ 2 năm một lần, các đơn vị xuất khẩu thực phẩm phải đăng ký lại cơ sở sản xuất cùng người đại diện tại Mỹ với cục Quản lý thực phẩm và Dược phẩm (FDA) để được cấp mã số mới.
  • Nếu doanh nghiệp không tiến hành đăng ký lại hoặc làm không đúng thủ tục thì cơ sở sản xuất sẽ bị hủy mã số kinh doanh.
  • Năm 2017, FDA điều chỉnh lại luật Hiện đại hóa an toàn vệ sinh thực phẩm. Theo đó, doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam phải có một đại diện nhận hàng phía Mỹ hoặc đối tác nhập khẩu xác nhận lại đăng ký của cơ sở sản xuất. Đại diện này có trách nhiệm xác minh thực phẩm nhập khẩu đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn hiện hành của Hoa Kỳ
  • Thực phẩm phải vượt qua các kiểm tra của FDA về độ an toàn, đánh giá theo quy trình thực hành sản xuất tốt (GMP) hoặc thực hành nông nghiệp tốt (GAP). Mục đích của sự điều chỉnh luật là sự chuyển đổi từ các biện pháp phản ứng với mối nguy hại sang các nguyên tắc phòng ngừa mối nguy hại.
  • Việc đăng ký và có chứng nhận xuất khẩu sang Mỹ chỉ là điều kiện cần để doanh nghiệp tiếp cận thị trường ( Đây chỉ là mã số, cho phép các kiểm định viên FDA kiểm tra cơ sở sản xuất)

+ Vượt qua các nguyên tắc, tuân thủ quy trình HACCP

Để xuất khẩu nông sản phải tiếp tục vượt qua các kiểm tra của FDA về độ an toàn và đánh giá theo quy trình thực hành sản xuất tốt (GMP) hay thực hành nông nghiệp tốt (GAP).

Cần đảm bảo Sản phẩm nông sản của bạn vượt qua được 4 yếu tố sau:

  1. mối nguy về sinh học ( ký sinh trùng và vi khuẩn gây bệnh);
  2. mối nguy hóa học (phóng xạ, thuốc trừ sâu và dư lượng thuốc, độc tố tự nhiên, phân hủy thực phẩm, phụ gia, chất tạo màu bị cấm, các chất gây dị ứng thực phẩm);
  3. mối nguy vật lý (nhiễm bẩn thủy tinh, kim loại);
  4. mối nguy (vô tình hoặc cố ý) để đạt được lợi ích kinh tế (làm giả, nhái…)

Việc đánh giá những mối nguy không chỉ được kiểm tra khi hàng hóa nhập cảng; mà còn ở nguyên liệu, quy trình nuôi trồng, điều kiện sản xuất của công ty, vệ sinh lao động, chế biến, sản xuất, đóng gói, dán nhãn. Nếu cơ sở vi phạm một trong bốn mối nguy này, FDA có thể tạm dừng với cơ sở sản xuất và nghiêm cấm đưa sản phẩm vào Mỹ. (Đây mới chỉ là quy định chung, không áp dụng cho nước trái cây, cá và sản phẩm từ cá)

Các tiêu chí về an toàn thực phẩm và giám sát chuỗi sản xuất từ khâu nguyên liệu đầu vào, với sự tham gia của cả khối công và khối tư nhân được sử dụng như “giấy thông hành” để vào từng thị trường liên bang. Do đó, để bắt kịp và hội nhập với thế giới, nhà sản xuất Việt Nam cần tuân thủ các tiêu chuẩn sản xuất, thực hành nông nghiệp sạch từ đầu đến tận cuối chuỗi (khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng)

+ Đảm bảo chất lượng sản phẩm, hàng hoá trong quá trình vận chuyển

Hiện nay, Mỹ là một trong những thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam, với nhiều mặt hàng quan trọng như gạo, thủy hải sản, cà phê, hồ tiêu, trái cây… Tuy nhiên, để có thể đặt chân vào thị trường này, sản phẩm cần trải qua một loạt tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm và nhiều quy định khắt khe từ đối tác. Vận chuyển hàng đi Mỹ cần đảm bảo được các yêu cầu về phương tiện vận chuyển như thời gian và chất lượng. Nhiều chuyến hàng xuất khẩu nông sản khi vận chuyển đi Mỹ  đã bị trả lại sau khi chất lượng nông sản không đảm bảo do ảnh hưởng của quá trình vận chuyển hàng đi Mỹ diễn ra trong thời gian dài và chất lượng bảo quản không tốt.

 

+ Những quy định của Mỹ về hàng nhập khẩu.

Luật pháp nước Mỹ quy định, tất cả mọi vấn đề có liên quan đến việc nhập khẩu hàng hoá từ nước ngoài vào đều thuộc thẩm quyền của chính phủ Liên bang. Bộ Thương mại, Văn phòng đại diện thương mại, Uỷ ban thương mại quốc tế và cụ thể nhất là Hải quan Mỹ là những cơ quan có trách nhiệm đối với vấn đề này. Các giấy tờ cần xuất trình trong quy trình nhập hàng vào Mỹ gồm: Giấy nhập khẩu hải quan; Hoá đơn thương mại; Danh mục kiện hàng (nếu có); Giấy tờ khác theo yêu cầu cụ thể của chính quyền liên bang hay địa phương. Mỹ có nhiều quy định pháp luật chặt chẽ và chi tiết trong buôn bán, các quy định về chất lượng, kỹ thuật…Vì thế, khi các nhà xuất khẩu chưa nắm rõ hệ thống các quy định về luật lệ của Mỹ thường cảm thấy khó làm ăn tại thị trường này.

Sau đây là các quy định của Mỹ về nhập khẩu:

Nhãn hiệu và thương hiệu:

Luật pháp Mỹ quy định các nhãn hiệu hàng hoá phải được đăng ký tại Cục Hải quan Mỹ. Hàng hoá mang nhãn hiệu giả hoặc sao chép, bắt chước một nhãn hiệu đã đăng ký bản quyền của một công ty Mỹ hay một công ty nước ngoài đã đăng ký bản quyền đều bị cấm nhập khẩu vào Mỹ. Bản sao đăng ký nhãn hiệu hàng hoá phải nộp cho Cục Hải quan Mỹ và được lưu giữ theo quy định. Hàng nhập khẩu vào Mỹ có nhãn hiệu giả sẽ bị tịch thu sung công.

Theo “Copyright Revision Act” (1976) của Mỹ, hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ theo các bản sao chép các thương hiệu đã đăng ký mà không được phép của người có bản quyền là vi phạm luật bản quyền, sẽ bị bắt giữ và tịch thu, các bản sao các thương hiệu đó sẽ bị huỷ. Các chủ sở hữu bản quyền muốn được Cục Hải quan Mỹ bảo vệ quyền lợi cần đăng ký khiếu nại bản quyền tại Văn phòng bản quyền theo các thủ tục hiện hành.

Hạn ngạch nhập khẩu:

Đi đôi với những luật lệ và nguyên tắc về nhập khẩu hàng hoá, ở Mỹ còn áp dụng hạn ngạch để kiểm soát về khối lượng hàng nhập khẩu trong một thời gian nhất định. Phần lớn hạn ngạch nhập khẩu do Cục Hải quan quản lý và chia làm 2 loại: hạn ngạch thuế quan và hạn ngạch tuyệt đối. Hạn ngạch thuế quan quy định số lượng đối với loại hàng nào đó được nhập khẩu vào Mỹ được hưởng mức thuế giảm trong một thời gian nhất định, nếu vượt sẽ bị đánh thuế cao. Hạn ngạch tuyệt đối là hạn ngạch về số lượng cho một chủng loại hàng hoá nào đó được nhập khẩu vào Mỹ trong một thời gian nhất định, nếu vượt quá sẽ không được phép nhập khẩu. Có hạn ngạch tuyệt đối mang tính toàn cầu, nhưng có hạn ngạch tuyệt đối chỉ áp dụng đối với từng nước riêng biệt.

Một số mặt hàng sau đây khi nhập khẩu vào Mỹ phải có hạn ngạch:

  • + Hạn ngạch thuế quan áp dụng đối với: sữa và kem các loại, cam, quýt, ôliu, xirô, đường mật,wiskroom chế toàn bộ hoặc một phần từ thân cây ngô.
  • + Hạn ngạch tuyệt đối áp dụng đối với: thức ăn gia súc, sản phẩm thay thế bơ, sản phẩm có chứa 45% bơ béo trở lên, pho mát được làm từ sữa chua diệt khuẩn, sôcôla có chứa 5,5% trọng lượng là bơ béo trở lên, cồn êtylen và hỗn hợp của nó dùng làm nhiên liệu.

Ngoài ra Cục Hải quan Mỹ còn kiểm soát việc nhập khẩu bông, len, sợi nhân tạo, hàng pha tơ lụa, hàng làm từ sợi thiên nhiên được sản xuất tại một số nước theo quy định. Việc kiểm soát này được tiến hành dựa trên những quy định trong Hiệp định hàng dệt mà Mỹ đã ký với các nước.

Tiêu chuẩn thương phẩm đối với hàng hoá nhập khẩu vào Mỹ được quy định rất chi tiết và rõ ràng đối với từng nhóm hàng. Việc kiểm tra, kiểm dịch và giám định do các cơ quan chức năng thực hiện.

Hàng dệt:

Các sản phẩm dệt nhập khẩu vào Mỹ phải ghi rõ tem, mác quy định: các thành phần sợi được sử dụng có tỷ trọng trên 5% sản phẩm phải ghi rõ tên, các loại nhỏ hơn 5% phải ghi là “các loại sợi khác”. Phải ghi tên hãng sản xuất, số đăng ký do Federal Trade Commission (FTC) của Mỹ cấp.

Pho mát, sữa và các sản phẩm sữa:

Pho mát và các sản phẩm pho mát phải tuân theo các yêu cầu của Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) và của Bộ Nông nghiệp Mỹ, và hầu hết phải xin giấy phép nhập khẩu và quota của Vụ quản lý đối ngoại (FAS) thuộc Bộ Nông nghiệp Mỹ.

Nhập khẩu sữa và kem phải tuân theo các điều luật về thực phẩm, và điều luật về nhập khẩu sữa. Các sản phẩm này chỉ được nhập khẩu bởi những người có giấy phép nhập khẩu do các cơ quan: Bộ Y tế, FDA, Trung tâm an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, Văn phòng nhãn hiệu thực phẩm và Bộ Nông nghiệp Mỹ cấp.

Thịt và các sản phẩm thịt:

Thịt và các sản phẩm thịt nhập khẩu vào Mỹ phải tuân theo các quy định của Bộ Nông nghiệp Mỹ và phải qua giám định của Cơ quan giám định y tế về động – thực vật (APHIS) và của Cơ quan giám định về an toàn thực phẩm trước khi làm thủ tục hải quan. Các sản phẩm từ thịt sau khi đã qua giám định của Cơ quan giám định động – thực vật (APHIS) còn phải qua giám định của Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA).

Động vật sống:

Động vật sống khi nhập khẩu vào Mỹ phải đáp ứng các điều kiện về giám định và kiểm dịch của APHIS, ngoài ra còn phải kèm theo giấy chứng nhận về sức khoẻ của chúng và chỉ được đưa vào Mỹ qua một số cảng nhất định.

Gia cầm và các sản phẩm gia cầm:

Gia cầm sống, lạnh đông, đóng hộp, trứng và các sản phẩm từ trứng khi nhập khẩu vào Mỹ phải theo đúng quy định của APHIS và của Cơ quan giám định an toàn thực phẩm thuộc USDA.

Cây và các sản phẩm từ cây:

Cây và các sản phẩm từ cây phải tuân theo các quy định của Bộ Nông nghiệp, có thể bị hạn chế hoặc cấm. Các sản phẩm này bao gồm cả trái cây, rau, cây trồng, rễ cây, hạt, sợi từ cây kể cả bông và các cây làm chổi, hoa đã cắt, một số loại ngũ cốc, gỗ cây, gỗ sẻ, đều cần có giấy phép nhập khẩu.

Hoa quả, rau và hạt các loại:

Rau, quả, hạt, củ các loại khi nhập khẩu vào Mỹ phải bảo đảm các yêu cầu về chủng loại, kích cỡ, chất lượng, độ chín. Các mặt hàng này phải qua Cơ quan giám định an toàn thực phẩm thuộc USDA để có xác nhận là phù hợp với các tiêu chuẩn nhập khẩu.

Đồ điện gia dụng:

Đồ điện gia dụng khi nhập khẩu vào Mỹ phải ghi trên nhãn mác các tiêu chuẩn về điện, chỉ tiêu về tiêu thụ điện theo quy định của Bộ Năng lượng, Hội đồng Thương mại Liên bang, cụ thể là đối với: tủ lạnh, tủ cấp đông, máy rửa bát, máy sấy quần áo, thiết bị đun nước, thiết bị lò sưởi, điều hoà không khí, lò nướng, máy hút bụi, máy hút ẩm.

Thực phẩm, thuốc bệnh, mỹ phẩm và trang thiết bị y tế:

  • Thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm, trang thiết bị y tế khi nhập khẩu vào Mỹ phải theo các quy định của Federal Drug and Cosmetic Act. Theo đó, những mặt hàng kém chất lượng hoặc không bảo đảm vệ sinh an toàn cho người sử dụng sẽ bị cấm nhập khẩu, buộc phải huỷ hoặc đưa về nước xuất xứ.
  • Nhiều mặt hàng thực phẩm như bánh kẹo, sản phẩm sữa, thịt, trứng, trái cây, rau còn phải tuân theo các quy định như đã nêu ở trên.
  • Hải sản khi nhập khẩu vào Mỹ phải theo các quy định của National Marine Fisheries Service thuộc Cục quản lý môi trường không gian và biển và Bộ Thương mại Mỹ.

Làm thủ tục hải quan:

Đối với các nhà xuất khẩu nước ngoài, khi muốn làm thủ tục hải quan để xuất khẩu vào Mỹ có thể thông qua người môi giới hoặc thông qua các công ty vận tải. Thuế suất có sự phân biệt rất lớn giữa những nước được hưởng quy chế Thương mại bình thường (NTR) với những nước không được hưởng (Non-NTR), có hàng hoá có thuế, có hàng hoá không thuế, nhưng nhìn chung thuế suất ở Mỹ thấp hơn so với nhiều nước khác.

Luật chống bán phá giá (ADs):

ở Mỹ có Luật chống bán phá giá (ADs). Nếu hàng hoá bán vào Mỹ thấp hơn giá quốc tế hoặc thấp hơn giá thành thì người sản xuất ở Mỹ có thể kiện ra toà, và như vậy, nước bị kiện sẽ phải chịu thuế cao không chỉ đối với chính hàng hoá bán phá giá mà còn đối với tất cả các hàng hoá khác của nước đó bán vào Mỹ.

Luật chống bán hạ giá (CVDs):

  • Thuế chống bán hạ giá( CVDs) được áp dụng để làm vô hiệu hoá tác động của trợ cấp xuất khẩu do Chính phủ nước ngoài dành cho hàng hoá của họ khi xuất khẩu sang Mỹ. Những trợ cấp này làm giảm giá của hàng xuất khẩu vào Mỹ một cách cố ý, gây “chấn thương” kinh tế cho các nhà sản xuất Mỹ.
  • Tại thị trường Mỹ, yếu tố giá cả đôi khi có sức cạnh tranh hơn cả chất lượng sản phẩm. Người tiêu dùng Mỹ thường không muốn trả tiền theo giá niêm yết. Hàng hoá bán tại Mỹ thường phải kèm theo dịch vụ sau bán hàng. Số lượng và chất lượng của dịch vụ này là điểm mấu chốt cho sự tín nhiệm đối với người bán hàng. Các nhà kinh doanh tại thị trường Mỹ phải chấp nhận cạnh tranh rất gay gắt như nhiều người mô tả là “một mất một còn”. Cái giá phải trả cho sự nhầm lẫn là rất lớn. Người tiêu dùng Mỹ thường nôn nóng nhưng lại mau chán, vì thế nhà sản xuất phải sáng tạo và thay đổi nhanh đối với sản phẩm của mình, thậm chí phải có “ phản ứng trước ”.
  • Mặc dù khi Hiệp định thương mại Việt- Mỹ được Quốc hội hai nước thông qua, hàng hoá Việt Nam vào Mỹ sẽ được hưởng NTR, nhưng vẫn phải cạnh tranh quyết liệt với hàng hoá của Trung Quốc, của các nước ASEAN và nhiều nước khác đang được hưởng NTR trên thị trường Mỹ, trong cuộc chiến này chất lượng và giá cả là quyết định. Hàng hoá của Việt Nam với chủng loại tương tự nhưng một số mặt hàng có chất lượng thấp hơn và giá thành cao hơn, khó có thể cạnh tranh với hàng hoá của các nước nói trên vốn đã có mặt tại thị trường Mỹ trước hàng hoá của Việt Nam hàng chục năm.
  • Như vậy, những quy định ngặt nghèo của Mỹ về hàng nhập khẩu là những trở ngại phi thuế quan mà hàng hoá của Việt Nam không dễ vượt qua. Nếu Việt Nam được hưởng NTR/GSP mà chất lượng hàng hoá không tăng và giá cả không hạ hoặc phía Mỹ vẫn áp dụng các quy định nhập khẩu truyền thống thì việc tăng kim ngạch và cơ cấu hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ là nan giải.
  • Để vào được thị trường Mỹ, ngoài việc nắm vững nhu cầu thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam còn phải tìm hiểu và nắm vững hệ thống quản lý xuất nhập khẩu cũng như hệ thống hạn ngạch của Mỹ. Mỹ có một hệ thống pháp luật về Thương mại vô cùng rắc rối và phức tạp. Khi các doanh nghiệp Việt Nam vượt qua được những rào cản này thì việc xâm nhập thị trường Mỹ sẽ trở nên dễ dàng hơn.

Vấn đề gian lận thương mại.

  • Vấn đề gian lận thương mại giữa các nước cũng được coi như là một thách thức đối với Việt Nam khi được hưởng NTR. Khi đó nếu được Mỹ áp dụng GSP (Hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập) đối với hàng hoá của Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ thì sẽ xảy ra tình trạng hàng hoá một số nước mạo danh là hàng của Việt Nam để được hưởng ưu đãi. Trong khi giá thành sản xuất của các nước này thấp hơn nhiều so với hàng của Việt Nam, thậm chí chỉ bằng một nửa giá thành của Việt Nam, lại được hưởng thuế suất ưu đãi (thông thường dưới 5%), thì hàng của các nước này chắc chắn sẽ cạnh tranh và đánh bật hàng của Việt Nam và chiếm được thị phần trong thị trường Mỹ.
  • Để chống gian lận thương mại hai bên phải tìm ra các biện pháp hữu hiệu như EU và Việt Nam đã từng làm để hình thành cơ chế kiểm tra kép đối với mặt hàng giày dép trên cơ sở giấy chứng nhận xuất xứ.

Công tác xúc tiến thương mại giữa Việt – Mỹ còn nhiều hạn chế.

  • Bên cạnh những tác động tích cực mà công tác xúc tiến thương mại đem lại cho các doanh nghiệp Việt Nam, vấn đề khó khăn nhất hiện nay vẫn là việc cung cấp thông tin chưa đầy đủ, cập nhật, chưa hỗ trợ cho các doanh nghiệp tiếp cận thị trường nước ngoài nói chung và thị trường Mỹ nói riêng.
  • Thông tin trong hoạt động xúc tiến thương mại đóng vai trò rất quan trọng và có ý nghĩa quyết định. Đây là đối tượng nghiên cứu của các tổ chức xúc tiến thương mại và là mảng hoạt động lớn nhất trong xúc tiến thương mại. Nếu tổ chức khai thác và chuyển tải thông tin tốt, chất lượng thông tin cao thì hiệu quả hoạt động xúc tiến thương mại được khẳng định và đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp. Ngược lại tổ chức thông tin thiếu chính xác, không đầy đủ, không kịp thời hoặc chưa đáp ứng nhu cầu của doanh nghiệp thì công tác xúc tiến thương mại sẽ không mang lại lợi ích gì cho doanh nghiệp, thậm chí còn gây thiệt hại cho các doanh nghiệp.
  • Thông tin ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh nói chung và hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng. Trong nền kinh tế thị trường thông tin được coi là một trong những nguồn lực quan trọng của doanh nghiệp. Trong sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của thị trường, nắm bắt được nhu cầu khách hàng càng đầy đủ, nhanh chóng thì mới có thể đáp ứng nhu cầu của họ tốt hơn và do đó hoạt động kinh doanh có hiệu quả hơn, sản phẩm sẽ có tính cạnh tranh cao hơn.
  • Do chưa hiểu đầy đủ, cụ thể về một ngành nào hoặc một doanh nghiệp cụ thể nào và về nhu cầu của doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất, kinh doanh nên thông tin từ các tổ chức xúc tiến thương mại hỗ trợ cho doanh nghiệp còn mang tính chất chung chung, chưa cụ thể và kịp thời. Trong khi đó các doanh nghiệp rất cần thông tin chuyên ngành cụ thể về thị trường, mặt hàng…
  • Do trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên hạn chế, việc tiếp cận và xử lý thông tin còn yếu nên nhiều khi chương trình xúc tiến không nhằm đúng đối tượng, lĩnh vực kinh doanh làm cho hiệu quả thấp.
  • Do không được hỗ trợ về mặt kinh tế nên đa số các tổ chức xúc tiến thương mại hoạt động theo nguyên tắc “ lấy thu bù chi”, do vậy họ hướng vào lợi nhuận hơn là hướng vào lợi ích của quốc gia, lợi ích của các doanh nghiệp.
  • Để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường xuất khẩu, Việt Nam cần xây dựng một hệ thống xúc tiến thương mại theo hướng phục vụ khách hàng rõ rệt. Ông Greg Dodds, Tổng giám đốc điều hành khu vực Đông Bắc á, cơ quan xúc tiến xuất khẩu của Australia(Austrade) cho rằng “Xúc tiến thương mại là giúp từng doanh nghiệp tăng doanh thu ở thị trường ngoài nước. Các cơ quan xúc tiến thương mại cần tập trung đáp ứng nhu cầu thực sự của các cơ quan xuất khẩu do bản thân các cơ sở này, chứ không phải ai khác đưa ra”.
  • Muốn làm ăn với Mỹ, chúng ta phải có hệ thống thông tin hiện đại. Phương tiện hữu hiệu nhất hiện nay có thể đáp ứng nhu cầu thông tin cho các doanh nghiệp là Internet. Hiện nay giá dịch vụ Internet ở Việt Nam còn quá cao so với nhiều nước. Ngay ở Mỹ, người sử dụng chỉ trả 1USD/ngày, còn ở Việt Nam là 1USD/giờ. Nhà nước cần tính đến lợi ích chung của xã hội chứ không nên vì lợi ích của một số ngành mà để mất đi lợi thế có tính toàn cầu này. Nếu chúng ta không có thông tin hiện đại thì không thể hội nhập với thế giới, không thể xuất khẩu và cạnh tranh được.
Tóm lại:

Tin liên quan

    BÌNH LUẬN

    Please enter your comment!
    Please enter your name here